HỆ THỐNG CÔNG TRÌNH DỊCH VỤ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP - BỘ MÔN KIẾN TRÚC CÔNG NGHIỆP - ĐẠI HỌC XÂY DỰNG

Ngày 23/10/2018
Xu hướng tất yếu: Ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp.
08/06/2014

Thực tiễn đã minh chứng, một số mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao có thể mang lại hiệu quả cho cả nền kinh tế lẫn lợi nhuận lớn cho các đơn vị sản xuất. Song cần có định hướng cụ thể, phù hợp, đặc biệt cần hơn nữa một cơ chế chính sách nhằm hài hòa lợi ích các bên cũng như thu hút trí tuệ của toàn xã hội đầu tư phát triển nông nghiệp... Nhân Dân hằng tháng có cuộc trao đổi với Tiến sĩ Đặng Kim Sơn, Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn chung quanh vấn đề này.


Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao là một xu hướng tất yếu.


Nước ta hiện nay có khoảng 15 triệu hộ dân sống ở vùng nông thôn, trong đó có 10 triệu hộ gia đình làm nghề nông và chủ yếu sản xuất theo mô hình nhỏ lẻ, lạc hậu. Nông dân luôn là đối tượng thiệt thòi trong chuỗi sản xuất, phân phối sản phẩm nông nghiệp. Câu chuyện phát triển mô hình sản xuất quy mô lớn liệu đưa vai trò người nông dân lên cao hay chính họ lại càng lép vế, thưa ông?
Theo tôi, với lực lượng như hiện nay thì người nông dân phải liên kết với nhau theo chiều ngang, nghĩa là họ sẽ phải trở thành các hợp tác xã, các tổ đoàn kết sản xuất tốt hơn, thành lập các hiệp hội, nghiệp đoàn có tiếng nói mạnh mẽ hơn để phối hợp với nhau và có vị thế hơn khi bàn bạc, tranh chấp, khi xử lý khiếu kiện, khi ký kết với các đối tác khác, đồng thời họ hỗ trợ nhau bằng dịch vụ.

Mặt khác, họ phải liên kết trong một chuỗi, gắn bó với các đối tượng khác ở trong toàn bộ chuỗi giá trị. Như vậy, mọi người trong chuỗi đó không chỉ ràng buộc với nhau bằng hợp đồng mà còn ràng buộc với nhau về quyền lợi và rủi ro. Tức là, nếu anh nông dân không làm đúng tiêu chuẩn, thời gian, khối lượng nông sản theo hợp đồng, thì người buôn bán cũng không thể bảo đảm thương hiệu, tiêu chuẩn mà mình đã đăng ký với khách hàng. Mọi người gắn bó với nhau một cách sống còn thì vai trò của người nông dân sẽ lên rất cao.

Đó là trước mắt, còn về lâu dài chúng ta phải lựa chọn trở lại, chỉ những người nào giỏi, người nào có năng lực, người có đủ khả năng để sản xuất lớn, điều khiển được máy móc, tính toán kinh tế thì mới ở lại làm nông nghiệp quy mô lớn, còn người có sức lao động nhưng không có khả năng quản lý, có khả năng quản lý và sức lao động nhưng không có tích tụ vốn sẽ phải rút ra khỏi nông thôn chuyển sang lĩnh vực phi nông nghiệp để tham gia vào xã hội công nghiệp.

Ông dự báo thế nào về xu thế ứng dụng công nghệ cao vào nông nghiệp khi thực tế đã có những doanh nghiệp, doanh nhân khá thành công trong các dự án lĩnh vực này?
Hiện nay có một số doanh nghiệp áp dụng khoa học công nghệ rất thành công, thí dụ như TH true Milk, Đà Lạt Hasfarm. Cả trong chăn nuôi, trồng trọt, thủy sản đều có những điển hình rất tốt. Tôi nghĩ trong tương lai đối với các trang trại lớn, doanh nghiệp lớn, đây là xu hướng tất yếu bởi khả năng cạnh tranh để họ sống còn và vươn lên chiếm lĩnh thị trường.

Tuy nhiên, đối với phần lớn hộ nhỏ, đây là thách thức lớn vì chỉ có một phần trong các hộ này có khả năng về vốn, lao động và nhạy bén với thị trường vươn lên được. Còn rất nhiều hộ nông dân quen với cách sản xuất cổ truyền, tự cung tự cấp không có điều kiện để tích tụ và tái sản xuất mở rộng phải nhanh chóng chuyển đổi để bước sang lĩnh vực phi nông nghiệp, đem lại thu nhập cao hơn và để lại đất đai, tài nguyên cho các hộ làm ăn giỏi ở lại sản xuất. Đây là xu thế khác nhau giữa doanh nghiệp và nông dân.

Liệu sẽ phát sinh xung đột trong quá trình đó không, thưa ông?
Trong xu thế cạnh tranh của kinh tế thị trường, rõ ràng nếu không có sự can thiệp của Nhà nước, và sự điều phối hài hòa của cộng đồng dân cư, làng bản thì đương nhiên quá trình phân hóa giàu - nghèo sẽ diễn ra rất mạnh. Những hộ có điều kiện như đã nói sẽ tách ra đi trước, còn nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương sẽ tụt lại sau.

Có điều chúng ta phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì vai trò của Nhà nước phải hỗ trợ cho hộ yếu thế, tất nhiên loại trừ những hộ lười, không chịu làm ăn, ỷ lại. Làm thế nào chính sách một mặt hỗ trợ nâng đỡ được người có chí tự vươn lên, giúp cho người yếu thế có cùng điều kiện, cơ hội với người làm ăn tốt, buộc những người làm ăn có năng lực nhưng không chịu phát huy phải đi cùng nhịp bước với người tiên tiến. Ở đây đòi hỏi nghệ thuật của người làm chính sách.

Vậy làm thế nào để hài hòa lợi ích sản xuất quy mô lớn với sản xuất nhỏ lẻ, cá thể?
Đối với những địa bàn, đối tượng có khả năng sản xuất lớn, có lợi thế về hàng hóa, năng lực trí tuệ và tài nguyên thì chính sách phải tạo điều kiện cho họ, khuyến khích họ, chẳng hạn làm cho điều kiện tích tụ tài nguyên vào tay người giỏi thì mới thuận lợi, tạo điều kiện buôn bán nông sản thực phẩm trong nước, ngoài nước không bị cạnh tranh bất lợi, không bị gian lận thương mại làm ảnh hưởng... Nhưng đối với nhóm người này, tái phân phối thu phí của họ hợp lý để một mặt họ vẫn tích lũy để vươn lên, mặt khác có phần để hỗ trợ cho nhóm người yếu thế.

Đối với nhóm người yếu thế, chúng ta phải giúp những nhóm người không có điều kiện tạo ra điều kiện, còn nhóm không có năng lực thì tăng cường năng lực cho họ kể cả cơ hội phát triển nông nghiệp lẫn cơ hội chuyển sang ngành nghề khác. Với nhóm hoàn toàn yếu thế do lười biếng, ỷ lại cần có biện pháp phạt để họ thiệt hại đến mức phải thay đổi hành vi, nếp sống, suy nghĩ. Cũng không loại trừ nhóm hoàn toàn không có điều kiện để vượt lên như những người cô đơn, gia đình chính sách, đồng bào dân tộc thiểu số thật sự khó khăn, chúng ta phải có chính sách xã hội giúp đỡ họ, để họ làm dịch vụ khác phát triển cho xã hội. Như vậy, chính sách phải chia ra từng đối tượng khác nhau và áp dụng một cách linh hoạt.

Việc ứng dụng khoa học công nghệ sao cho phù hợp, hiệu quả là một bài toán nan giải?
Chúng ta có xuất phát điểm thấp, kỹ thuật áp dụng trong sản xuất còn ít, ứng dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp chưa mạnh, rồi trong điều kiện đất ngày càng thu hẹp, nước ngày càng ít đi, lao động chuyển sang các lĩnh vực khác thì rõ ràng chỉ có tiến bộ khoa học là nguồn lực duy nhất và vô tận để phát triển đất nước.

Chính vì thế, muốn phát huy ngay hiệu quả khoa học công nghệ, phải bắt đầu từ việc tiếp thu khoa học tiến bộ từ nước ngoài, các giống, vật tư, kỹ thuật máy móc ở bên ngoài cái gì sẵn thì chúng ta làm. Hai là, phải làm càng sớm càng tốt đầu tư nghiên cứu, đầu tư khuyến nông, tạo năng lực cung cấp tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhất là những kỹ thuật bên ngoài không cung cấp cho chúng ta hoặc là những kỹ thuật mang tính ứng dụng.

Vấn đề ở đây phải có chính sách thu hút nhân tài để trí thức trở về nông thôn, để những thanh niên giỏi được đào tạo không muốn ở lại nước ngoài mà trở về nước cống hiến. Đây là thách thức rất lớn để đảo ngược dòng chất xám từ nước ngoài về trong nước, từ đô thị về nông thôn, từ phi nông nghiệp về nông nghiệp. Có làm được như vậy chúng ta mới xây dựng được khả năng sáng tạo và phát triển trong công nghệ.

Cuối cùng phải có cơ sở hạ tầng để áp dụng được khoa học kỹ thuật, hiện tất cả còn là khoảng cách lớn giữa nhu cầu và thực tế. Chất lượng điện, nước, thông tin liên lạc, giao thông giữa đô thị và nông thôn còn quãng rất xa. Nếu thật sự muốn áp dụng KHCN trong nông nghiệp phải có tất cả các điều kiện như đô thị có hiện nay thì chúng ta mới phát triển được.

Vậy theo ông vai trò Nhà nước trong sản xuất quy mô lớn ứng dụng công nghệ cao sẽ phải như thế nào?
Rõ ràng Nhà nước phải đóng ba vai trò: Xây dựng cơ sở hạ tầng, máy móc muốn vận chuyển được phải có đường sá, muốn áp dụng điện khí hóa phải có hệ thống điện tốt, trong khi Nam Bộ hiện nay vẫn tưới bằng động cơ máy nổ...

Thứ hai, Nhà nước phải đầu tư công cho nghiên cứu KHCN. Bản quyền nông nghiệp rất dễ bị mất cho nên đây là lĩnh vực Nhà nước phải đầu tư.

Thứ ba, xây dựng chính sách thúc đẩy nghiên cứu, ứng dụng, tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật. Hiện nay tất cả các nước, phần đầu tư của tư nhân cho KHCN là rất cao nhưng ở nước ta rất thấp. Đó là do chính sách chưa tạo điều kiện để mọi người bỏ tiền vào nghiên cứu, ứng dụng hay chính sách tạo thị trường KHCN chưa phát triển. Rồi chính sách đối với con người, cán bộ nghiên cứu chỉ tập trung vào việc thăng quan tiến chức hơn là nghiên cứu, hơn là thành chuyên gia giỏi. Cán bộ khuyến nông chỉ đợi lệnh ở trên, chưa lo lắng đến giải quyết vấn đề của nông dân...

Theo tôi vừa phải tiến hành đầu tư nghiên cứu, đầu tư tạo điều kiện phát triển thị trường KHCN, và cả tạo điều kiện để người dân, doanh nghiệp muốn ứng dụng KHCN dễ dàng đạt mong ước, trong đó đột phá nhất là khâu phát triển thị trường, để thị trường KHCN cũng phát triển như thị trường hàng hóa, thị trường dịch vụ hiện nay.

Xin trân trọng cảm ơn ông!
 

Nhiều hộ nông dân quen với cách sản xuất cổ truyền, tự cung tự cấp không có điều kiện để tích tụ và tái sản xuất mở rộng thì phải nhanh chóng chuyển đổi để bước sang lĩnh vực phi nông nghiệp, đem lại thu nhập cao hơn và để lại đất đai, tài nguyên cho các hộ làm ăn giỏi ở lại sản xuất.
Đơn vị nào áp dụng KHCN tốt, đem lại hiệu quả bảo vệ môi trường cao thì phải được miễn thuế, phải được vay vốn ưu đãi.


NGUYỄN THÙY VÂN (THỰC HIỆN)
Nguồn: nhandan.com.vn
http://www.nhandan.com.vn/hangthang/kinh-te/item/23129002-ung-dung-cong-nghe-cao-trong-nong-nghiep-la-xu-huong-tat-yeu.html

Liên kết website