HỆ THỐNG CÔNG TRÌNH DỊCH VỤ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP - BỘ MÔN KIẾN TRÚC CÔNG NGHIỆP - ĐẠI HỌC XÂY DỰNG

Ngày 23/05/2018
Công nghệ và nông dân – Hai yếu tố quyết định của nông nghiệp Việt Nam
26/09/2014

Nông nghiệp là một trong số ít ngành đem lại giá trị xuất khẩu lớn cho Việt Nam, tuy nhiên so với nhiều nước khác thì Việt Nam cần đổi mới nhiều trong lĩnh vực này. Từ góc độ một chuyên gia từng làm việc tại những nước có nền nông nghiệp hàng đầu thế giới như Nhật Bản, Úc, Giáo sư Nguyễn Quốc Vọng - giám đốc Trung tâm Giống rau hoa SSC, giảng viên đại học RMIT (Úc) cho rằng, Việt Nam có nhiều tiềm năng, nếu biết khai thác, đầu tư bài bản nền nông nghiệp sẽ không thua kém các nước đứng đầu hiện nay.

 


Hiện trạng cơ cấu sản xuất nông nghiệp Việt Nam đang bị mất cân đối


Chỉ biết lúa, ngô
Theo phân tích của giáo sư Vọng, nông nghiệp Việt Nam còn phát triển không đều và thiếu đồng bộ. Tất cả nhân tài, nguồn lực, đất đai Việt Nam đều dành cho lúa rất nhiều, trong khi những ngành khác rất ít. Việt Nam dành khoảng 7,5 triệu hecta trồng lúa và 1,2 triệu hecta trồng ngô: “Như vậy trên 90% đất đai của Việt Nam là dành cho lúa, ngô và quên đi các loại rau, hoa quả khác”.
 
Ngành nông sản VN sẽ có nhiều cơ hội để vươn xa ra thị trường quốc tế khi đã có đầy đủ tiềm năng, chỉ cần có những bước đi hợp lý, khoa học và đồng bộ. Gs. Vọng phân tích, thị trường nhập khẩu của rau, quả thế giới khoảng 100 tỉ đô la mà Việt Nam chỉ tham gia xuất khẩu rất ít, năm 2013 tăng lên được 1 tỉ đô. Về hoa thị trường thế giới cần nhập khoảng 25 tỉ đô thì năm 2012 Việt Nam mới xuất được khoảng 60 triệu đô. Trong khi đó thị trường lúa thế giới cần nhập khoảng 16,8 tỉ đô thì Việt Nam lại tập trung rất nhiều và chiếm khoảng gần 3 tỉ đô (2013). So với tiềm năng, thế mạnh của Việt Nam thì rất khập khiễng.

Gs. Vọng so sánh, nông nghiệp Việt Nam và Úc có hai điểm đặc biệt, đầu tiên là Việt Nam không quan tâm đến chuỗi giá trị ngành hàng. Thứ hai là chúng ta chưa đặt nông dân là vai trò chủ thể của nông thôn.
 
Chuỗi giá trị bao gồm toàn bộ: giống, canh tác, thu hoạch, sau thu hoạch, bao bì, giao thông, thị trường… tất cả chuỗi này phải được thông suốt và đồng nhất. Gs. Vọng cho hay, ở Úc một nông dân là một doanh nghiệp. Họ chính là những người quán xuyến vấn đề sản xuất và thu hoạch. Úc là một đất nước rất rộng nhưng chỉ để ra 100.000 hecta để trồng lúa và kiếm được khoảng 1 tỉ đô Úc, như vậy, 1 hecta ở Úc cho thu nhập 10.000 đô.
 
Nếu tính toán như Việt Nam, với 7,5 triệu hecta đất trồng thì sẽ có thu nhập gần 75 tỉ đô Úc chứ không phải 11,3 tỉ USD (tương đương 12,5 tỉ đô Úc) như hiện nay. Qua những năm làm việc tại Úc, Gs. Vọng cho rằng, đầu tiên Úc rất quan tâm đến vấn đề giống. Ngay sau khi có hiện tượng về biến đổi khí hậu, Úc đã suy nghĩ để tìm ra giống chống biến đổi khí hậu, đó là giống Sherpa có thể chịu được lạnh, nóng khác nhau: Chịu lạnh ở nhiệt độ 11,50C, chỉ cần 50% lượng nước cũng sinh trưởng tốt, trổ đòng sớm hơn 10  - 14 ngày, thu hoạch sớm hơn 3 tuần với sản lượng 10 tấn/hecta…
 
Bên cạnh đó, Gs. Vọng cũng chỉ ra rằng, tại Nhật Bản, Úc cánh đồng 3 hecta là điều kiện tối ưu nhất. Vì với 3 hecta là thiết kế phù hợp cho máy móc, và chỉ cần làm một buổi là xong. Nếu cánh đồng nhỏ hơn thì dư mà lớn hơn phải làm thêm, cho nên cánh đồng nào ở Úc cũng là 3 hecta. Theo Gs. Vọng, Việt Nam cũng nền xem lại vấn đề này.
 
Thua kém vì thiếu công nghệ, không chú trọng nông dân
Mỗi năm Việt Nam mất từ 10 – 30% sau thu hoạch. Rau, quả mất khoảng 30%, lúa gạo mất khoảng 15%, nông sản khoảng 20%. Lý giải điều này, giáo sư Vọng cho rằng Việt Nam không có kho lạnh hoặc có nhưng chưa nhiều. Vì thế phải thay đổi và đầu tư cho vấn đề này.
 
Nước Úc sử dụng tất cả các loại phụ phẩm từ lúa gạo, không vứt đi một thứ gì nên 1 hecta có thể cho lợi nhuận 10.000 đô la Úc. Như cám thì làm thành dầu cám, trấu dùng làm than trấu, rơm thành thức ăn gia súc hoặc than… Ngoài ra, ở Úc người ta cũng nghiên cứu rất kỹ xem trồng lúa thì nên nuôi con gì. “Nếu là một nền nông nghiệp hữu cơ thì trong ruộng lúa có thể nuôi 64 loại sinh vật, những loại này sẽ ăn các loại vi sinh vật có hại cho lúa. Ngoài ra, Việt Nam cũng nên nghiên cứu giảm bớt số vụ cho đất có thời gian nghỉ ngơi, để không bị sâu bệnh tồn lưu từ đời này qua đời khác…”, Gs. Vọng lưu ý thêm.
 
Gs. Vọng đưa ra hai giải pháp. Với nông nghiệp: Việt Nam cần đầu tư khoa học và công nghệ, theo chuỗi ngành hàng, đặc biệt công nghệ sau thu hoạch và chế biến để nâng cao giá trị nông sản. Với nông dân: trả lại cho họ vai trò chủ thể của nông thôn. Đồng thời, phải kết nối nông dân và doanh nghiệp, hỗ trợ họ tăng sức cạnh tranh. Đó là con đường Việt Nam phải đi để tạo nên một nền nông nghiệp bền vững, nông thôn hiện đại và nông dân giàu có.
 
Trần Quỳnh.
Nguồn: bsa.org.vn
http://bsa.org.vn/?p=viewcontent&menufid=47&id=13315

Liên kết website