HỆ THỐNG CÔNG TRÌNH DỊCH VỤ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP - BỘ MÔN KIẾN TRÚC CÔNG NGHIỆP - ĐẠI HỌC XÂY DỰNG

Ngày 23/10/2018
Một nền nông nghiệp phát triển không thể thiếu khoa học và công nghệ
10/06/2015
Tại Kỳ họp thứ Chín, QH Khóa XIII, vấn đề tiêu thụ nông sản đang được thảo luận sôi nổi và cũng là vấn đề “nóng” mà cử tri cả nước rất quan tâm. Những thành tựu nông nghiệp trong những năm qua không hề nhỏ, thế nhưng điệp khúc “được mùa mất giá” vẫn vang lên; thu nhập của người nông dân vẫn thấp. Nguyên nhân do đâu? Là nhà khoa học đã nhiều năm gắn bó với ngành nông nghiệp, tôi xin nêu vài ý với mong muốn đưa một nền nông nghiệp phát triển bền vững.



Ảnh minh họa

Xây dựng niềm tin, niềm tự hào  về nền nông nghiệp
 

Việt Nam là một nước có khí hậu nhiệt đới điển hình, có đất đai phì nhiêu, có đa dạng sinh học nhất nhì thế giới, đặc biệt có nguồn lao động dồi dào, nông dân cần cù, chịu thương chịu khó. Nhưng không phải ai cũng nhận ra những lợi thế này. Cần phải thẳng thắn thừa nhận cho đến bây giờ chúng ta vẫn chưa có tư duy chiến lược đúng tầm để phát triển một nền nông nghiệp hàng hóa, toàn diện, bền vững, đặc biệt là vấn đề quy hoạch tổng thể, hình thức tổ chức sản xuất, rất yếu về công nghệ sau thu hoạch và tiếp xúc thương mại. Như vậy để xây dựng chiến lược phù hợp cho phát triển nông nghiệp thì cần cả hệ thống chính trị vào cuộc liên ngành, liên vùng, liên quốc gia… và nếu được nên có một Ủy viên Bộ Chính trị, hoặc Phó thủ tướng chuyên trách về Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.

Tôi rất đồng tình với ý kiến gần đây của Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Nguyễn Thiện Nhân trong bài “Đẩy mạnh tái cơ cấu nông nghiệp và tăng thu nhập bền vững cho người nông dân: cần đột phá ở khâu trước và sau nông dân” trong đó đề xuất 2 giải pháp về quy hoạch, 5 giải pháp về đầu vào và 6 giải pháp về đầu ra. Nếu thực hiện tốt các giải pháp nêu trên, phần nào đã thể hiện được sự đổi mới tư duy chiến lược phát triển nông nghiệp của nước ta hiện nay. Tôi cho rằng, muốn đưa nhanh KH - CN vào sản xuất, trước hết phải xác định cho được thể chế nông thôn - hình thức tổ chức sản xuất phù hợp nhất: Mô hình liên kết kiểu “cánh đồng lớn”. Mô hình Hợp tác xã kiểu mới hay mô hình “doanh nghiệp nông nghiệp” để tăng quy mô, giá trị và chất lượng nông sản. Xác định được đầu ra của sản phẩm một cách ổn định, giá cả phù hợp thì mới làm rõ hiệu quả của các giải pháp KH - CN. Cần có hội thảo chuyên đề “Cơ sở khoa học và thực tiễn về hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp trong thời kỳ đổi mới, hội nhập toàn diện”.
 

Thực hiện tốt Luật Khoa học và Công nghệ (sửa đổi)
 

Đổi mới cơ bản, toàn diện về hệ thống tổ chức KHCN, cơ chế đặt hàng, khoán đến sản phẩm cuối cùng, huy động tối đa nguồn lực đầu tư cho khoa học từ nguồn vốn ngoài ngân sách… Cần phân loại các đối tượng nghiên cứu. Các loại cây, con có lợi thế kép: vừa có giá trị cao, quy mô lớn, có thể xuất khẩu và tiêu thụ nội địa như hồ tiêu, cà phê, hạt điều, cá tra, tôm… Loại sản phẩm thứ hai, tuy không có lợi thế so với thị trường khu vực và thế giới nhưng có tiềm năng lớn nhằm giảm nhập khẩu tối đa đầu vào như cây, con làm nguyên liệu cho thức ăn chăn nuôi, nguyên liệu làm phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc thú y… Một ví dụ cụ thể, hàng năm nước ta phải nhập hàng triệu tấn ngô, đậu tương để làm thức ăn chăn nuôi, tiêu tốn 3,5 - 4 tỷ USD, trong khi chúng ta có các giống ngô cho năng suất từ 8 - 10 tấn/ha/vụ, hoàn toàn có thể sản xuất hàng triệu tấn ngô/năm (5,45 triệu tấn ngô năm 2014 tăng 250.000 tấn so với năm 2013). Các mô hình trồng đậu tương vụ thu đông trên đất 2 vụ lúa tại Thái Bình, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Hưng Yên… trên diện tích hàng vạn hécta với giống đậu tương mới ĐT 26 của Trung tâm Nghiên cứu và phát triển đậu đỗ, một số giống khác của các viện thuộc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, sử dụng kỹ thuật làm đất tối thiểu, đã đạt năng suất hạt khô từ 2 - 2,5 tấn/ha, nhiều hộ gia đình đạt 2,7 đến 3,2 tấn/ha với giá thành sản xuất là 6.500 -7.000đ/kg (giá năm 2014), trong khi giá nhập khẩu đậu tương cho thức ăn chăn nuôi là 13.000đ/kg.

Như vậy, nếu chỉ tính riêng đồng bằng sông Hồng và các tỉnh lân cận, diện tích trồng đậu tương thu đông trên đất 2 vụ lúa có thể lên tới 500 - 800 nghìn hécta và sản lượng có thể đạt 1,2 -1,6 triệu tấn/năm. Để chế biến thành sữa, cứ 1kg hạt chế được 12 lít sữa đậu nành, giá bán 23.000đ/lít, chỉ cần đạt 2,5 tấn/ha, ta có thể thu được 575 triệu đồng/ha, chưa kể các phụ phẩm khác và giá trị cải tạo đất sau khi trồng đậu tương. Rõ ràng vấn đề tiêu thụ đậu tương đâu có khó, nếu chúng ta quan tâm đúng mức đến  khâu chế biến. Nhưng rất tiếc là cho đến thời điểm này đậu tương vẫn bị coi là cây trồng phụ - “đứa con rơi”. Vậy ai là người phải chịu trách nhiệm? Nhà khoa học, doanh nghiệp, người nông dân hay là nhà quản lý?

Tôi đề nghị Nhà nước cần có chính sách thông thoáng hơn nữa về trọng dụng, khuyến khích và tôn vinh đội ngũ trí thức, đặc biệt các bạn trẻ trường đại học, học viện, viện nghiên cứu trong nước và kiều bào nước ngoài vào làm việc. Bên cạnh đó cũng phải nhanh chóng xây dựng và thực hiện Đề án huy động lực lượng KH - CN, đặc biệt các cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý trẻ về nông thôn trực tiếp chuyển giao và áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất. Tôn vinh kịp thời các nhà sáng chế và các sản phẩm KH - CN chất lượng cao. Với tư duy nhà quản lý phải là “nhạc trưởng” trong bản giao hưởng liên kết sản xuất theo chuỗi sản  phẩm, dựa trên các tiến bộ khoa học chất lượng cao, với nguồn nhân lực đủ mạnh, các tiến bộ kỹ thuật sẽ được áp dụng nhanh và có hiệu quả. Nếu được như vậy, KH - CN sẽ trở thành nhân tố quyết định để phát triển kinh tế - xã hội đặc biệt để phát triển một nền nông nghiệp hàng hóa, chất lượng cao, bền vững, thân thiện với môi trường, đời sống người nông dân sẽ ngày càng được nâng cao.
 

Gs.Vs Trần Đình Long -Chủ tịch Hội Giống cây trồng Việt Nam

Nguồn: http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=81&NewsId=351276

 

Liên kết website