HỆ THỐNG CÔNG TRÌNH DỊCH VỤ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP - BỘ MÔN KIẾN TRÚC CÔNG NGHIỆP - ĐẠI HỌC XÂY DỰNG

Ngày 18/08/2018
Để phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao
12/06/2015
Những năm qua, nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ được đưa vào ứng dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp, gồm các lĩnh vực như trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản. Tuy nhiên, để sản phẩm ứng dụng công nghệ cao (CNC) có chỗ đứng và vị thế trên thị trường, con đường vẫn còn nhiều gian nan.


Kiểm tra chất lượng giống hoa tại Trung tâm ứng dụng công nghệ cao Bắc Ninh.


Bài 1: Những tín hiệu tích cực

Thời gian qua, nhiều địa phương ở Bắc Bộ đã tự "mở lối, tìm đường", đưa vào thí điểm mô hình ứng dụng CNC cho một số mặt hàng nông sản thu được những kết quả đáng khích lệ.


Trăm hoa đua nở...

Các tiến bộ kỹ thuật về giống, biện pháp thâm canh đã góp phần quan trọng nâng cao năng suất, chất lượng nông sản và giá trị thu nhập trên đơn vị canh tác, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, tạo tiền đề cho việc phát triển nông nghiệp đô thị và nông nghiệp CNC. Đi đầu trong phong trào này phải kể tới Bắc Ninh, bên cạnh dự thảo đề án "Phát triển sản xuất nông nghiệp ứng dụng CNC tỉnh Bắc Ninh đến năm 2020", địa phương này đang tập trung triển khai, ứng dụng công nghệ vào sản xuất nông nghiệp. Trong trồng trọt, các tiến bộ kỹ thuật về giống cây trồng, sản phẩm của CNC được thử nghiệm, ứng dụng vào sản xuất đại trà, cho hiệu quả cao, như: các giống lúa lai B-TE1, Syn 6, GS9, q.ưu số 1, bác ưu 903; bắc thơm số 7, nàng xuân, nếp N87, N97, PD2, BM 9603; giống ngô NK6654, HN88, NM1300; giống khoai tây mới Atlantic; giống cà chua Savior, DV2962...

Diện tích lúa lai, lúa chất lượng chiếm khoảng 50% diện tích gieo cấy. Một số sản phẩm về giống cây trồng nuôi cấy mô như: hoa phong lan, chuối tiêu hồng, khoai tây... được đưa vào thử nghiệm, bước đầu cho hiệu quả cao. Các quy trình công nghệ tiên tiến về thâm canh, như sản xuất rau, hoa trong nhà lưới, nhà kính, tưới tự động bước đầu được áp dụng. Những năm qua, tỉnh Bắc Ninh xây dựng 17 mô hình trồng trọt ứng dụng CNC với gần 70 nghìn m2 nhà lưới, để sản xuất các loại hoa cao cấp, rau an toàn.

Ngoài ra, tỉnh tập trung đầu tư cho một số mô hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng CNC, quy mô lớn như: Khu sản xuất thực nghiệm nông nghiệp CNC Bắc Ninh tại xã Việt Đoàn, huyện Tiên Du, với diện tích 16,9 ha do Sở Khoa học và Công nghệ làm chủ đầu tư; Mô hình nông nghiệp CNC tại xã Lạc Vệ, huyện Tiên Du, quy mô 25ha, do Công ty TNHH nông nghiệp CNC, thuộc Công ty cổ phần Tập đoàn DABACO Việt Nam làm chủ đầu tư.

Việc ứng dụng rộng rãi các tiến bộ kỹ thuật mới về giống, biện pháp thâm canh trong sản xuất trồng trọt, đã nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị sản xuất trên một đơn vị canh tác (năm 2013, giá trị sản xuất trồng trọt ứng dụng CNC chiếm khoảng 16% tổng giá trị sản xuất trồng trọt của tỉnh), góp phần bảo đảm an ninh lương thực trong điều kiện diện tích đất nông nghiệp của tỉnh ngày càng bị thu hẹp. Tại tỉnh Bắc Giang, việc ứng dụng công nghệ cao được triển khai trong trồng nấm và lúa hạt lai F1.

Làm việc với chúng tôi, Phó Giám đốc Trung tâm giống nấm Bắc Giang Phạm Văn Khâm cho biết: Xuất thân là Xí nghiệp giống nấm Tân Dĩnh, thuộc Công ty CP giống cây trồng Bắc Giang, với cơ sở vật chất và năng lực ban đầu yếu kém, bằng sự nỗ lực của toàn thể cơ quan, sự hỗ trợ về nguồn lực con người, kinh phí ngân sách, huy động nhiều nguồn khác, đến nay, trung tâm được kiện toàn, bảo đảm năng lực sản xuất, đáp ứng yêu cầu thực tế, tổng diện tích đạt 9.600 m2; giống nấm các loại đạt 80-100 tấn/năm; nấm thương phẩm đạt 700-1.000 tấn nguyên liệu/năm (tương đương 350- 500 tấn nấm thương phẩm/năm), với các sản phẩm chủ yếu, như mộc nhĩ, nấm sò, nấm rơm, nấm mỡ và nấm linh chi...

Làm việc với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thái Bình, chúng tôi được biết, địa phương này đã hình thành các vùng sản xuất nông nghiệp tập trung mẫu, tạo cơ chế khuyến khích cho các tổ chức, cá nhân tham gia sản xuất, cơ chế ưu đãi phát triển cho từng vùng. Trong đó, chú trọng công tác tiến hành dồn điền đổi thửa và ứng dụng CNC, tạo mô hình mẫu tác động đến các vùng sản xuất khác trên địa bàn tỉnh. Trung tâm Khảo nghiệm khuyến nông Thái Bình đã triển khai dự án nhân giống khoai tây nuôi cấy mô tế bào kết hợp khí canh. Đây là mô hình nhân giống khoai tây CNC duy nhất tại Thái Bình và cho kết quả tốt.


Trái ngọt đầu mùa

Dù chưa tạo những dấu ấn nổi bật, nhưng các địa phương áp dụng công nghệ và CNC vào nông nghiệp đã đạt những kết quả đáng khích lệ. Tại Bắc Giang, Bắc Ninh, tuy quy mô chưa lớn, nhưng mô hình trồng hoa, rau sạch và nấm ứng dụng CNC đã thu được kết quả khả quan. 100% nông sản hàng hóa tiêu thụ hết ngay ở thị trường trong nước.

Theo Giám đốc Trung tâm Khuyến nông, khuyến ngư Thái Bình Nguyễn Như Liên, giống khoai tây CNC của Trung tâm hiện được nhân rộng tại 10 xã thuộc các huyện Đông Hưng, Thái Thụy, Quỳnh Phụ, Tiền Hải. Đây là sản phẩm thực hiện kỹ thuật ươm mầm 100% công nghệ Việt Nam, cung cấp dinh dưỡng, tạo củ thông qua rễ, không cần đất, giá thành giống bằng nửa so với giống khoai tây nhập từ châu Âu.

Chủ nhiệm HTX nông nghiệp xã Trọng Quan, huyện Đông Hưng, Trần Minh Bằng, chia sẻ: Từ vụ đông 2013, xã trồng giống khoai tây của Trung tâm khảo nghiệm khuyến nông, khuyến ngư tỉnh, mang lại kết quả tốt, năng suất bình quân đạt từ 470 đến 500 kg/sào, có hộ đạt năng suất 700 kg/sào. Với giá thị trường hiện nay là 10 nghìn đồng/kg, người dân có lãi lớn. Vụ đông tiếp theo, xã nhân rộng diện tích trồng khoai tây bằng phương pháp khí canh, và đến nay chủ yếu trồng giống khoai của trung tâm.

Qua khảo sát tại các địa phương, như nấm ở Bắc Giang, rau và hoa ở Bắc Ninh, khoai tây ở Thái Bình, các sản phẩm ứng dụng CNC không gặp khó khăn gì về thị trường, sản xuất đến đâu tiêu thụ hết đến đó. Giám đốc Công ty Hương Việt Linh (Bắc Ninh), chuyên trồng các loại rau củ quả, cho biết: Tuy sản xuất tại Bắc Ninh, nhưng 100% thị trường của công ty tại Hà Nội. Đây là thị trường khó tính, nhưng sản phẩm của công ty đã khẳng định được vị thế và được người tiêu dùng ưa chuộng.
 

Bài 2: Đi tìm lời giải

Phải khẳng định, quá trình đưa công nghệ cao (CNC) vào nông nghiệp tại các địa phương ở Bắc Bộ đang là giai đoạn khởi đầu. Theo nhận định chung, đây chưa phải là những loại CNC đúng nghĩa. Và như vậy, để nhân rộng mô hình này và tìm chỗ đứng ổn định cho sản phẩm nông nghiệp CNC là vô cùng khó khăn.



Ươm nấm linh chi tại Trung tâm giống nấm tỉnh Bắc Giang.


Khó khăn về kinh phí

Trong quá trình thử nghiệm, ứng dụng và đi vào sản xuất hàng hóa, hầu như tất cả địa phương được khảo sát đều có chung câu hỏi về vấn đề kinh phí. Phó Giám đốc Trung tâm nấm Bắc Giang Phạm Văn Khâm cho biết: Từ năm 2007, tỉnh Bắc Giang có đề án trồng nấm giai đoạn 2007-2010 làm rất bài bản, dự trù kinh phí hết sáu tỷ đồng, nhưng đi hết quy trình chỉ có khoảng 50% kinh phí được rót xuống. Năm 2012, Trung tâm tiếp tục xây dựng đề án phát triển sản xuất giai đoạn 2012-2015, dự trù kinh phí 49 tỷ đồng, trong đó kinh phí từ T.Ư cấp 29 tỷ đồng, còn lại tỉnh cấp, nhưng đến nay nguồn vốn từ T.Ư vẫn là con số không. Vì thế, Trung tâm mới nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao các quy trình công nghệ sản xuất những loại nấm dễ làm, do chưa có điều kiện để phát triển chủng loại nấm có giá trị kinh tế cao hoặc giống gốc (nguyên chủng) của các loại nấm cao cấp. Khảo sát thực tế các địa phương, mới thấy, trong quá trình đưa CNC vào sản xuất nông nghiệp còn gặp vấn đề nan giải là chuyện "tích tụ ruộng đất".

Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bắc Ninh Trần Thị Hòa cho biết: Do quy hoạch sử dụng đất liên tục điều chỉnh để phù hợp định hướng đưa Bắc Ninh thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2015, thành phố trực thuộc T.Ư vào năm 2020, cho nên một số vùng quy hoạch cho sản xuất nông nghiệp CNC phải nhường chỗ cho những quy hoạch khác có tính cấp thiết hơn. Tại các địa phương hiện nay, do ruộng đất manh mún, sản xuất nhỏ lẻ, tập quán canh tác truyền thống vẫn phổ biến nên việc thay đổi phương thức sản xuất, nhận thức của người dân về sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ và CNC còn hạn chế.

Giám đốc Công ty Hương Việt Sinh Vũ Lan Sinh, chuyên trồng rau sạch ở Bắc Ninh cho biết: Khi đầu tư vào Trung tâm CNC Bắc Ninh để sản xuất rau sạch, nhu cầu đăng ký của đơn vị là 5 ha, nhưng cuối cùng chỉ được cấp 3 ha, dù doanh nghiệp đã đầu tư nhiều tỷ đồng để phát triển công nghệ. Tại Trung tâm Khuyến nông , khuyến ngư tỉnh Thái Bình, dù đã ứng dụng và phát triển sản xuất nông sản hàng hóa ở hàng chục xã trên địa bàn các huyện của tỉnh, nhưng Trung tâm chỉ có 1 ha để đầu tư giống và nghiên cứu thử nghiệm, trong khi nhu cầu cao hơn gấp mười lần.

Nhìn rộng ra, vấn đề tích tụ ruộng đất để phát triển nông nghiệp CNC chẳng phải là câu chuyện của riêng ai. Gần đây, những "ông lớn" như Công ty CP Hoàng Anh Gia Lai, Công ty CP Gemadept... phải sang tận các nước Lào, Cam-pu-chia để thuê đất trồng cao-su, mía, bởi họ không thể thuê được vài chục nghìn ha đất "sạch" ở trong nước. Nghịch lý là, trong khi doanh nghiệp thiếu đất sạch, thì còn nhiều diện tích đất lại đang "ngủ quên".

Theo số liệu của Bộ Tài nguyên và Môi trường, cả nước hiện có 319 công ty nông, lâm nghiệp đang quản lý, sử dụng tổng diện tích gần 2,8 triệu ha đất. Tuy nhiên, có tới 30-40% số diện tích này sử dụng kém hiệu quả (khoảng 835 nghìn ha). Đất nông nghiệp nhàn rỗi còn nhiều, nhưng manh mún, nhỏ lẻ, phải thuê gom từ nhiều chủ, nên mất thời gian, thủ tục rườm rà. Về vấn đề này, TS Đặng Kim Sơn, Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nhận định: Vào các khu công nghiệp thì được trải thảm đỏ, nhưng muốn làm vùng nguyên liệu nông sản, trang trại chăn nuôi quy mô lớn thì không đơn giản, vì khó kiếm được đất "sạch". Để thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp CNC, Nhà nước phải thật sự có những đột phá trong chính sách đất đai, cơ sở hạ tầng.

Bên cạnh đó, việc chuẩn bị xây dựng đề án, cơ sở hạ tầng để đưa CNC vào lĩnh vực nông nghiệp tại các địa phương cũng còn nhiều bất cập, chưa phù hợp thực tế, đặc thù vùng, miền. Một số địa phương chỉ mới có những giải pháp ngắn hạn, mà không có đề án chuyên sâu kỹ lưỡng. Như tỉnh Bắc Giang, ngành nông nghiệp vừa đề xuất Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện năm dự án sản xuất công nghệ cao từ năm 2015 đến 2016, gồm: Xây dựng vùng sản xuất lạc giống công nghệ cao tại Tân Yên; ứng dụng CNC vào sản xuất nấm tại Lạng Giang; xây dựng vùng sản xuất hạt lai F1 tại Tân Yên; ứng dụng CNC vào sản xuất hoa tại TP Bắc Giang và xây dựng mô hình sản xuất ứng dụng CNC trồng một số giống cây ăn quả trên tỉnh Bắc Giang. Tuy nhiên, theo đánh giá chung, các dự án này chỉ là trong ngắn hạn và nhỏ lẻ, rất khó tạo nên những đột biến trong phát triển ngành nông nghiệp CNC của tỉnh và nhân rộng cho các địa phương.
 

Đề xuất các giải pháp

Để tiến trình đưa công nghệ và CNC vào ngành nông nghiệp nhanh và mạnh hơn, theo nhận định của những chuyên gia kinh tế cũng như các doanh nghiệp, người lao động, cần tập trung giải quyết những vấn đề lớn, như cơ sở hạ tầng, nhân lực, công nghệ và thị trường tiêu thụ. GS, TS Nguyễn Văn Bộ, nguyên Giám đốc Viện Khoa học nông nghiệp Việt Nam, cho rằng: Đầu tư CNC vào nông nghiệp đồng nghĩa với việc tạo ra sự khác biệt, vì thế Nhà nước cần có chính sách ưu đãi hơn về hạn điền và thời gian thuê đất, tạo điều kiện để doanh nghiệp và nông dân liên kết, sản xuất trên cánh đồng mẫu lớn. Người nông dân có thể giao đất cho doanh nghiệp bằng nhiều hình thức, khả thi nhất là góp quyền sử dụng đất, như vậy, bà con có thể yên tâm về quyền sử dụng đất và doanh nhân cũng yên tâm để đầu tư lâu dài.

Về chính sách thuế, miễn thuế thu nhập doanh nghiệp cho các doanh nghiệp tham gia vào chuỗi công nghệ, nhất là năm năm đầu, khi sản xuất kinh doanh đã ổn định, có giá trị hàng hóa và lãi lớn thì giảm thấp nhất mức thuế suất, nhằm khuyến khích phát triển. Đây là những vấn đề mà ngành nông nghiệp tỉnh Bắc Ninh đã nhận thấy và đang xây dựng, đề xuất lên trên.

Đối với chính sách thị trường, Bộ Công thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần phối hợp thông suốt với chính quyền các cấp địa phương, tổ chức tốt việc cung cấp thông tin thị trường, khuyến cáo các nhà khoa học, giúp các vùng sản xuất định hướng sản xuất, kinh doanh phù hợp nhu cầu thị trường trong và ngoài nước.

Thực tế cho thấy, do quy mô sản xuất sản phẩm hàng hóa tại các trung tâm, vùng canh tác nông nghiệp có công nghệ và CNC còn nhỏ, nên thị trường chưa phải là vấn đề lớn, nhưng khi chuyển sang sản xuất đồng bộ, có quy mô lớn hơn, thì thị trường tiêu thụ nông sản CNC phải được nhìn nhận một cách nghiêm túc và đặc biệt xem trọng.
 

Bài và ảnh: TÂM THỜI, TUẤN NGỌC, THÁI SƠN
Nguồn:
http://nhandan.com.vn/kinhte/tin-tuc/item/26595302-de-phat-trien-nong-nghiep-ung-dung-cong-nghe-cao.html

Liên kết website