HỆ THỐNG CÔNG TRÌNH DỊCH VỤ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP - BỘ MÔN KIẾN TRÚC CÔNG NGHIỆP - ĐẠI HỌC XÂY DỰNG

Ngày 23/05/2018
Thu hẹp tổn thất sau thu hoạch: Nhiều giải pháp tích cực
29/07/2015

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vừa tổ chức Hội nghị sơ kết thực hiện quyết định số 68/2013/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp.

Thu hoạch bằng máy gặt đập liên hợp làm giảm tổn thất từ 5-6% xuống còn 2-3%.

 
Phát biểu tại Hội nghị, ông An Văn Khanh – Phó Cục trưởng Cục chế biến Nông lâm thủy sản và Nghề muối cho biết: Thực hiện Nghị quyết 48/NQ-CP ngày 23/9/2009 của Chính phủ về cơ chế, chính sách giảm tổn thất sau thu hoạch đối với nông sản, thủy sản và Quyết định số 68/2013/QĐ-TTg về chính sách hỗ trợ giảm tổn thất trong nông nghiệp của Thủ tướng Chính phủ, qua thời gian thực hiện đã tạo điều kiện giúp số lượng máy, thiết bị trong nông nghiệp tăng nhanh. Trong đó, số lượng máy kéo tăng 12,6%; động cơ các loại tăng 18%, máy sấy sau thu hoạch tăng 6,4%, máy phun thuốc bảo vệ thực vật 22,6%.
 
Về mức độ cơ giới hóa, với khâu làm đất, lúa đạt 92%; mía đạt 80% ở những vùng sản xuất tập trung, địa hình bằng phẳng; ngô đạt 70%, sắn đạt 80%. Về giảm tổn thất trong nông nghiệp, đối với lúa gạo mức độ tổn thất đã giảm từ 11-13% trước đây xuống còn 10%; khâu thu hoạch bằng máy gặt đập liên hợp giảm tổn thất từ 5-6% xuống còn 2-3%.
 
Trong lĩnh vực thủy sản, mặc dù đã đưa ra các giải pháp về công nghệ và thiết bị bảo quản trên tàu khai thác hải sản nhưng thời gian bảo quản vẫn chỉ từ 10- 12 ngày. Về tổng thể, công nghệ và thiết bị bảo quản chưa phù hợp với hoạt động khai thác dài ngày, vì vậy, thất thoát sau thu hoạch vẫn còn rất cao. Ước tính mỗi năm Việt Nam phải chịu tổn thất từ 20- 30% chủ yếu về chất lượng, trong đó, nghề lưới kéo có tỷ lệ tổn thất cao nhất từ 35- 48%; các nghề khác tổn thất thấp hơn như: lưới vây 17,7%; lưới rê 22,8% và câu vàng 23%...
 
Theo ông Khanh, hiện vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai chương trình hỗ trợ giảm tổn thất trong nông nghiệp. Cụ thể, nhiều địa phương kết quả thực hiện chính sách hỗ trợ vẫn còn thấp hoặc người dân vẫn chưa tiếp cận được với chính sách. Công tác tuyên truyền phổ biến chính sách, vai trò của các cấp, các ngành trong việc đẩy mạnh cơ giới hóa tạo động lực thúc đẩy tái cơ cấu vẫn còn nhiều hạn chế.
 
Mặc dù tổn thất sau thu hoạch đối với lúa được thu hẹp nhưng với mặt hàng rau quả, thủy sản vẫn còn cao; ngành mía đường khả năng cạnh tranh vẫn còn thấp, giá thành cao; chưa tạo được mối liên kết giữa các doanh nghiệp với nông dân trong thực hiện chính sách hỗ trợ.
 
Tại Hội nghị, các đại biểu đã cùng thảo luận và đưa ra nhiều giải pháp thiết thực nhằm tiếp tục thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 48/NQ-CP và Quyết định số 68/2013/QĐ-TTg về hỗ trợ giảm tổn thất trong nông nghiệp. Trong đó, các đại biểu cho rằng, cần tăng cường hơn nữa công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến các chính sách về nông nghiệp, nông thôn đến các cấp, các ngành và người dân. Nhằm thực hiện mục tiêu đến năm 2020 giảm 50% tổn thất đối với các loại nông sản, thủy sản theo Nghị quyết 48 đề ra, cần có tác động mạnh hơn từ Quyết định 68; cần xem xét lãi suất đầu tư phát triển cho đầu tư dài hạn để thực hiện các Dự án bảo quản.
 
Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh công tác nghiên cứu, ứng dụng, hợp tác công – tư, đặt doanh nghiệp vào vị trí trung tâm kết hợp với các nhà khoa học để thực hiện các dự án bảo quản giảm tổn thất sau thu hoạch; thường xuyên khảo sát, điều tra, đánh giá mức độ tổn thất sau thu hoạch đối với nông sản, thủy sản.
 
Bộ trưởng Bộ NN & PTNT Cao Đức Phát nhấn mạnh: Con cá kéo lên bờ mất 30% giá trị vì giảm chất lượng, phần tổn thất sau thu hoạch này chính là phần lãi của người dân. Thực hiện giải pháp đồng bộ giảm tổn thất sau thu hoạch là việc quan trọng và có ý nghĩa to lớn về kinh tế xã hội, nâng cao hiệu quả của ngành nông nghiệp. Bên cạnh những kết quả đạt được, sau gần 5 năm thực hiện chính sách vẫn có nhưng trăn trở vướng mắc về kỹ thuật, ngân hàng, tiến độ thực hiện chính sách còn chậm. Vì vậy, cần phải có bước đi cụ thể, phù hợp để việc thực hiện hiệu quả hơn, mạnh mẽ hơn chủ trương quan trọng này. Bộ trưởng Cao Đức Phát cho rằng, Quyết định 68 mới cụ thể hóa 2 trong số 13 giải pháp được đưa ra trong Nghị quyết 48, vì vậy, Bộ trưởng Cao Đức Phát yêu cầu Cục Chế biến Nông lâm thủy sản và Nghề muối rà soát và báo cáo lại với Bộ 11 giải pháp còn lại để có những điều chỉnh chính sách và tổ chức triển khai thực hiện cho phù hợp.
 
Tại đồng bằng sông Cửu Long, máy gặt đập liên hợp đạt 76% diện tích toàn vùng, nhiều tỉnh có mức độ cơ giới hóa khâu gặt cao như: Long An, An Giang đạt 98%; Vĩnh Long 97%; Kiên Giang 95%, tổn thất khâu gặt giảm từ 5-6% trước đây xuống còn 2%.

Nguyễn Hạnh.
Nguồn http://baocongthuong.com.vn/thu-hep-ton-that-sau-thu-hoach-nhieu-giai-phap-tich-cuc.html

Liên kết website